Lý Thuyết Dow Và Các Nguyên Lý Cơ Bản
Lý thuyết Dow từng được xem là kim chỉ Nam của các nhà giao dịch ngoại hối, vì nó đưa ra được những nhận định khái quát về biến động giá trên thị trường. Để tìm hiểu rõ hơn về lý thuyết Dow và các nguyên lý cơ bản của nó, hãy cùng theo dõi bài viết dưới đây của chúng tôi.
Lý Thuyết Dow Là Gì?
Lý thuyết Dow được coi là khởi nguồn của mọi trường phái phân tích kỹ thuật. Với mục đích nguyên thuỷ là sử dụng những xu hướng của thị trường chứng khoán làm điều kiện kinh doanh chứ không nhằm mục đích dự báo giá cổ phiếu. Tuy nhiên càng về sau, lý thuyết Dow lại chủ yếu dành riêng cho việc hỗ trợ dự báo giá cổ phiếu.
Không có bất kỳ sách Lý thuyết Dow hay tài liệu thống nhất nào, mà nó chính là quan điểm của Ông Dow được các nhà phân tích và bình luận về sau tổng hợp từ các bài viết, phát biểu của ông mà hình thành nên. Những lý thuyết khác sau này cũng dựa trên nền tảng của lý thuyết này mà phát triển. Trường phái phân tích kỹ thuật cũng thừa kế và phát triển trên nền tảng của lý thuyết Dow, làm cho lý thuyết này thêm vững chắc, đơn giản hơn và dễ hiểu hơn và thực tế hơn bằng đồ thị.
Các Nguyên Lý Cơ Bản Của Lý Thuyết Dow Trong Forex
1. Chỉ số bình quân phản ánh mọi thứ
Tổng và xu thế của các giao dịch trên sàn chứng khoán thể hiện tổng lượng thông tin của Phố Wall trong quá khứ, được ứng dụng để phân ánh tương lai. Giống như một sổ nhà thống kê vẫn thường làm, chúng ta không cần phải bổ sung vào chỉ số trung bình như các chỉ số giá hàng hóa, hoạt động thanh toán bù trừ của ngân hàng, dao động tỷ giá hối đoái, khối lượng giao dịch trong và ngoài nước hay bất kỷ thứ gì.
Quan điểm thị trường phản ánh tất cả những yếu tố có ảnh hưởng chung đến cung cầu chính là một trong những tiền đề căn bản của lý thuyết kỹ thuật. Lý thuyết này có hiệu quả đối với các chỉ số trung bình của thị trường cũng như đối với các thị trường riêng lẻ và thậm chí phản ánh cả thiên tai. Những thị trường lại có thể phản ánh những sự cố này bằng cách tác động gần như là lập tức đến giá cả.
2. Thị trường có ba xu hướng chính (cấp độ sóng)
Theo định nghĩa của Dow một xu hướng tăng là tình huống mà trong đó thị trưởng sẽ có xu hướng tăng khi mức giá giao dịch cao nhất hiện tại cao hơn các mức giá đỉnh trước đấy, và mức giá thấp nhất tại thời điểm hiện tại cũng cao hơn các mức giá thấp nhất trong quá khứ. Nói cách khác, một xu hướng tăng có đồ thị gồm các đỉnh và đáy tăng dần. Ngược lại, thị trường có chiều hướng đi xuống khi mức giá cao nhất và thấp nhất của thị trường hiện tại thấp hơn mức cao nhất và thấp nhất trong quá khứ.
Định nghĩa của Dow đã được thử thách qua thời gian và vẫn luôn được coi là nền móng cho việc phân tích xu hướng. Nếu sau một biến động như trên mà giá lại rơi xuống nữa thì có khả năng nó sẽ giảm sâu hơn. Dow cho rằng một xu hướng phải có ba cấp: xu hướng chính hay xu hướng cơ bản (primary), xu hướng trung gian (secondary•) và xu hướng nhỏ hay xu hướng ngắn hạn (minor).
Giai đoạn đầu của xu hướng đại diện cho thủy triều,'giai đoạn thứ hai hay còn gọi xu hướng trung gian (intermediate) đại diện cho những đợt sóng hình thành nên thủy triều và những xu hướng nhỏ có biểu hiện của những gợn sóng lăn tăn. Giai đoạn thứ hai hay giai đoạn trung gian là sự hiệu chinh của xu hướng ban đầu và thường là kéo dài từ ba tuần đến ba tháng.
3. Xu hướng chính gồm ba giai đoạn
Dow tập trung vào các xu hướng chủ yếu hay xu hướng chính và ông cho rằng chúng diễn ra theo ba kỳ:
- Kỳ tích lũy (accumulation phase)
- Kỳ thâm nhập vào công chúng (public participation)
- Giai đoạn phân phối (distribution).
Kỳ tích lũy diễn ra khi các nhà đầu tư có hiểu biết, chủ động mua các cổ phiếu của công ty, trái ngược với các ý kiến của thị trường. Giai đoạn này giá cổ phiếu tăng không đáng kể do số lượng người mua ít trong khi cung ra thị trường còn khá nhiều. Tuy nhiên, khi nhận thấy rằng các nhà đầu tư trên đã đúng, nhiều người sẽ bắt chước chạy theo mua cố phiếu này, dẫn tới sự tăng đột biến về giá trong giai đoạn hai - giai đoạn thâm nhập vào công chúng.
Tại giai đoạn hai, xu hướng tăng đọt biến này sẽ kéo dài cho đến khi nhu cầu dầu cơ trên thị trường đạt mức cực đại. Lúc này, khi báo chí bắt đầu đưa tin về sự tăng giá của cổ phiếu và tín hiệu tích cực của nền kinh tế cũng như sự gia tăng về khối lượng đầu cơ và, các nhà đầu tư khôn ngoan sẽ bán số cổ phiếu của họ ra thị trường, và đây chính là giai đoạn thứ ba của xu hướng - giai đoạn phân phối.
Trong suốt giai đoạn cuối cùng này, những nhà đầu tư vấn đã tích lũy ở thời điểm thị trường chạm đáy (là lúc không ai muốn mua vào) bắt đầu phân phối ra bên ngoài trước khi có những người khác khởi động việc đó.
4. Các chỉ số trung bình phải củng cố lẫn nhau
Ông cho rằng tín hiệu thị trưởng tăng hay giảm giá không quan trọng, trừ khi cả hai chỉ số bình quân phải đưa ra cùng một tín hiệu tương đồng, tức là chủng củng cố lẫn nhau. Cả hai chỉ số phải cùng vượt qua đỉnh cao thứ hai của đợt trước đó để chúng minh rằng một thị trường tăng giá bắt đầu hay tiếp diễn. Ông đã không hề nghĩ rằng các tín hiệu buộc phải xuất hiện đổng thời, nhưng lại công nhận khoảng thời gian giữa hai tín hiệu càng ngắn thì càng cho thấy sự chắc chắn. Khi có một chỉ số chênh so với cái kia thì Dow cho rằng xu hướng trước vẫn được duy trì.
5. Khối lượng giao dịch phải xác nhận xu hướng
Dow công nhận khối lượng giao dịch là một yếu tố đứng thứ hai nhưng không kém phần quan trọng trong việc xác nhận những tín hiệu giá. Có thể nói đơn giản rằng, khối lượng giao dịch sẽ gia tăng theo hướng phát triển của xu hướng chính. Trong một xu hướng tăng, khối lượng giao dịch sẽ tăng khi giá tăng lên, và giảm khi giá giảm. Trong một xu hướng giảm, khối lượng giao dịch sẽ tăng khi giá giảm và giảm khi giá phục hồi mức tăng.
Ngày nay, các chỉ báo phúc tạp về khối lượng giúp chúng ta xác định khối lượng đang gia tăng hay suy giảm. Những nhà giao dịch khôn ngoan sẽ biết sử dụng kiến thức này để đánh giá biến động giá và xem liệu hai chỉ số này có củng cố lẫn nhau hay không.
6. Một xu hướng được cho là sẽ tiếp diễn cho đến khi có tín hiệu đảo chiều
Có nhiều công cụ hỗ trợ các nhà giao dịch phát hiện ra những tín hiệu đảo chiều, bao gồm nghiên cứu về ngưỡng hỗ trợ và kháng cự, mô hình giá, đường xu hướng và đường trung bình di động. Một số chỉ báo còn có thể đưa ra cảnh báo sớm về nguy cơ Thất xung lượng.
Nếu tất cả chúng không cho thấy điều gì có nghĩa là xu hướng hiện tại sẽ tiếp diễn. Công việc được xem là khó khăn nhất đối với người dùng là phân biệt một sự hiệu chỉnh thứ yếu trong xu hướng hiện tại với giai đoạn tín hiệu đầu tiên của một xu hướng mới đảo nghịch. Những người theo lý thuyết Dow thường xuyên bất đồng về việc xác định thời điểm xuất hiện tín hiệu đảo chiều thực sự.
Khái quát về Lý thuyết Dow và Sóng Elliott PDF
Lý thuyết Dow và Sóng Elliott là những biến động của bản thân thị trường (thể hiện trong chỉ số trung bình của thị trường) và không hề dựa trên cùng cơ sở của Phân tích cơ bản là các thống kê hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, giúp phát hiện ra xu hướng thị trường và những giai đoạn điều chỉnh giá để ra quyết định "lướt sóng".





Nhận xét
Đăng nhận xét